Liên kết website
--- Liên kết website --- Bộ Y tế Báo sức khỏe và đời sống Báo Tiền phong Online Báo Nghệ An điện tử Báo Tuổi trẻ Báo dân tríThư viện ảnh
Thống kê website







![]() | Hôm nay | 257 |
![]() | Hôm qua | 1260 |
![]() | Tuần này | 1517 |
![]() | Tuần trước | 12535 |
![]() | Tháng này | 24024 |
![]() | Tháng trước | 51960 |
![]() | Tất cả | 911307 |
Địa chỉ IP: 38.107.179.209
Bây giờ là: 06:31 21-05-2012
| Lịch sử Ngành Y tế Nghệ An |
|
|
| Chủ nhật, 26 Tháng 12 2010 08:20 |
|
Lịch sử Ngành Y tế Nghệ An SƠ LƯỢC VỀ TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI NGHỆ AN VÀ TRUYỀN THỐNG Y HỌC TRƯỚC 1945
1- Địa lý tự nhiên. Tỉnh Nghệ An nằm toạ độ từ 18035’00” đến 20000’10” vĩ độ bắc và từ 103050’25” đến 105040’30” kinh độ đông, phía bắc giáp tỉnh Thanh Hoá, phía nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía đông là Biển Đông, phía tây giáp các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlikhămxay, Hủa Phăn thuộc nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, với đường biên giới dài 419 km. Diện tích tự nhiên của Nghệ An có 16.370 km2 đứng thứ nhất trong cả nước. Nghệ An có vị trí chiến lược về kinh tế, quốc phòng của đất nước, Nghệ An có miền núi, trung du, đồng bằng và ven biển. Khí hậu ở Nghệ An có phần khắc nghiệt hơn so với nhiều tỉnh. Nghệ An chịu ảnh hưởng và tác động của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Từ tháng 4 đến tháng 8 có gió tây - nam thổi qua rừng núi phía tây ra biển mang theo hơi nóng và khô. Từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau thường có gió mùa đông bắc mưa dầm gió rét. Vị trí và điều kiện khí hậu khắc nghiệt đã tạo ra những khó khăn cho sản xuất cả cây trồng, vật nuôi và sinh hoạt của con người. Chính vì thế, người dân Nghệ An phải luôn “một nắng hai sương” nương tựu vào nhau, sống giản dị, tiết kiệm, song lại rất kiên cường, không chịu khuất phục trước thiên tai. Bằng lao động sáng tạo, cần cù, các thế hệ nối tiếp nhau đã khám phá, cải tạo đất thành ruộng vườn tươi tốt, tạo dựng nên những làng quê trù phú... 2- Địa lý hành chính: Ngược dòng lịch sử, từ thời Bắc thuộc, Nghệ An đã trải qua nhiều thay đổi về đơn vị hành chính với nhiều tên gọi khác nhau. Thời thuộc Hán, năm -111 (trước Công nguyên), địa bàn Nghệ An hiện nay nằm trong huyện Hàm Hoan (một trong bảy huyện của quận Cửu Chân). Thời thuộc Tuỳ (năm 602) nằm trong huyện Cửu Đức (một trong tám huyện của quận Nhật Nam). Thời Tiền Lê (980 - 1009), Lê Hoàn chia nước Đại Việt ra lộ, phủ, châu, vùng đất này thuộc Diễn Châu và Hoan Châu. Thời nhà Lý, năm Thông Thuỵ thứ ba (1036), Lý Thái Tông cho đổi Hoan Châu thành châu Nghệ An, địa danh “Nghệ An” có từ lúc ấy. Năm 1104, Lý Nhân Tông nâng châu Nghệ An thành phủ Nghệ An. Năm 1225, nhà trần đổi phủ Nghệ An thành trấn Nghệ An. Năm 1469, vua Lê Thánh Tôn định lại bản địa cả nước. Đơn vị hành chính trên phủ, huyện được gọi là thừa tuyên. Diễn Châu và Châu Hoan được hợp làm thừa tuyên Nghệ An (bao gồm cả đất Nghệ An và Hà Tĩnh hiện nay). Đến thời Nhà Nguyễn, đơn vị hành chính là trấn bị bãi bỏ, cả nước được chia làm 29 tỉnh trực thuộc triều đình. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), nhà Nguyễn cắt hai phủ Đức Thọ và Hà Hoa, lập thành một tỉnh mới là Hà Tĩnh. Từ đó cho tới nay, về cơ bản, địa giới của tỉnh Nghệ An không thay đổi. Trong thời thuộc Pháp, từ năm 1896 trở đi, tỉnh Nghệ An có 5 phủ: Anh Sơn, Diễn Châu, Quỳ Châu, Tương Dương, Hưng Nguyên và 5 huyện: Thanh Chương, Nam Đàn, Nghi Lộc, Yên Thành, Nghĩa Đàn, Quỳnh Lưu. Sau cách mạng Tháng Tám, năm 1945, các đơn vị hành chính là cấp phủ được đổi thành huyện, còn cấp tổng (cấp trung gian giữa phủ và xã) bị bãi bỏ. Ngày 17 - 5 - 1961, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 65/CP, chia huyện Tương Dương thành 2 huyện, lấy tên huyện Kỳ Sơn và huyện Tương Dương. Ngày 19 - 4 - 1963, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 52/CP, phê chuẩn việc chia lại địa giới 3 huyện là Quỳ Châu, Anh Sơn, Nghĩa Đàn thành 7 huyện mới là: Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Anh Sơn, Đô Lương, Tân Kỳ và Nghĩa Đàn. Thực hiện Nghị quyết số 32 của Bộ Chính trị Trung ương đảng, ngày 28-12- 1961 về việc xây dựng Vinh thành một trong 5 khu công nghiệp lớn của miền Bắc và nâng cấp Thị xã Vinh lên thành phố. Ngày 10 - 10 - 1963, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 148/CP về việc thành lập thành phố Vinh. Sau khi nước nhà được thống nhất, từ 1976 đến năm 1991, tỉnh Nghệ An và tỉnh Hà Tĩnh được hợp nhất, thành tỉnh Nghệ Tĩnh. Từ tháng 8 - 1991, đến nay Nghệ An lại được tách riêng thành một tỉnh như từ 1976 về trước. Ngày 29 - 8 - 1994, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 113/CP về việc thành lập thị xã Cửa Lò. Hiện nay, tỉnh Nghệ An có thành phố Vinh là thành phố loại 2, thị xã Cửa Lò, 17 huyện là: Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Đô Lương, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương. 3- Truyền thống yêu nước và cách mạng. Qua nhiều thế kỷ, nhân dân Nghệ An đã trải qua nhiều cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, vừa chinh phục thiên nhiên, vừa chống trả quyết liệt với bọn cướp nước để tồn tại và phát triển. Nhân dân đã xây dựng được cách sống thích hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế của mình và không ngừng vươn lên theo đà phát triển của lịch sử. Trong thời kỳ "Bắc thuộc" hơn 10 thế kỷ (từ thế kỷ 7 trước công nguyên đến thế kỷ thứ X), Nghệ An đã cùng cả nước kiên cường đấu tranh giải phóng dân tộc. Nhân dân Nghệ An đã liên tục chống thù trong giặc ngoài. Đến năm 542, nhân dân xứ Nghệ đã góp phần xứng đáng trong cuộc khởi nghĩa của Lý Bí (Lý Nam Đế). Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa đã làm cho dân tộc ta được hồi sinh với cái tên mới: vương quốc Vạn Xuân (542 - 602). Vào thế kỷ VIII, Mai Thúc Loan lãnh đạo nhân dân vùng dậy khởi nghĩa chống ách cai trị hà khắc, tàn bạo của Nhà Đường. Từ thành Vạn An và căn cứ Sa Nam (Nam Đàn), ông cùng nghĩa quân kéo ra Ái Châu (Thanh Hoá), tiến công ra Bắc, đánh chiếm phủ thành Tống Bình (Hà Nội), giải phóng cả nước rồi tự xưng là Mai Hắc Đế (năm 722). Thành Vạn An trở thành quốc đô trong thời điểm ấy. Năm 1285, nhân dân Nghệ An đã góp phần chặn đánh một hướng tiến công từ Nam ra Bắc của giặc Nguyên Mông, chủ tướng giặc là Toa Đô phải bỏ vùng này rút quân ra Thanh Hoá. Trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông, đất này có danh tướng Hoàng Tá Thốn, có công chặn giặc vùng ven biển và có biệt tài lặn lâu để đục thuyền giặc. Vào thế kỷ XV, địa bàn chiến lược Nghệ An là "đất đứng chân" của nhà Hậu Lê để chống giặc Minh, giải phóng đất nước. Tại đây đã diễn ra "trận Bồ Đằng như sấm vang chớp dật, trận Trà Lân như trúc chẻ tro bay". Trong thời đó, Cương quốc công Nguyễn Xí (quê Nghi Lộc) lập được nhiều chiến công oanh liệt và có vai trò quyết định trong việc trừng trị bọn phản tặc, đưa Lê Tư Thành (Lê Thánh Tông) lên làm vua, mở đầu một thời kỳ hưng thịnh vào bậc nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Vào cuối năm Mậu Thân (1788), khi người anh hùng Quang Trung trên đường tiến quân ra Bắc đánh đuổi quân Thanh dừng chân tại đất tổ Nghệ An để tuyển quân, chỉ trong mấy ngày đã có hàng vạn thanh niên xứ Nghệ gia nhập nghĩa quân, góp phần xứng đáng vào đại thắng quân Thanh tại Ngọc Hồi, Đống Đa, mùa xuân Kỷ Dậu (1789). Tại phía nam thành phố Vinh, dưới chân núi Quyết và núi Kỳ Lân hiện còn dấu vết của di tích Phượng Hoàng Trung Đô, mà Vua Quang Trung đã cho xây dựng để dời đô từ Phú Xuân (Huế) ra Nghệ An. Từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, trước thái độ bạc nhược, đầu hàng của triều đình Huế, các nhà văn thân cùng nhân dân Nghệ An đã tỏ ra quyết tâm đánh “cả Triều lẫn Tây". Năm Giáp Tuất (1874), tại Thanh Chương, Nam Đàn đã nổi lên cuộc khởi nghĩa của Trần Tấn và Đặng Như Mai. Khi phong trào Cần Vương dấy lên, tại vùng bắc Nghệ An nổi lên cuộc khởi nghĩa Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã (1885 - 1889). Trong hơn 10 năm (1885 - 1896) nhân dân Nghệ An đã hưởng ứng sôi nổi cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng, Cao Thắng từ Hương Khê (Hà Tĩnh) phát triển ra. Vào đầu thế kỷ XX, cả nước ta bùng lên phong trào Đông Du và công cuộc vận động Duy Tân. Người khởi xướng phong trào Đông Du là nhà chí sỹ yêu nước Phan Bội Châu. Năm 1904, ông lập Duy Tân hội, vận động thanh niên sang Nhật du học để tìm kế cứu vong dân tộc. Là người tiêu biểu cho xu hướng bạo động lúc bấy giờ, Phan Bội Châu đã cùng Ngô Quảng lôi cuốn được nhiều tầng lớp nhân dân, kể cả giáo dân tham gia phong trào chống Pháp. Văn thơ của Phan Bội Châu có sức hấp dẫn mạnh mẽ, giục giã mọi người ra tay hành động. Phan Bội Châu một người con ưu tú của quê hương Nghệ An, là nhân vật tiêu biểu nhất trong phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Trong khi Phan Bội Châu đang chuẩn bị thành lập Việt Nam Quang phục hội ở Trung Hoa, thì người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã lên tàu thuỷ đi sang phương Tây tìm đường cứu nước (năm 1911). Những năm sau đó, nhiều thanh niên yêu nước xứ Nghệ đã lần lượt xuất dương qua trại cày Đặng Thúc Hứa ở Xiêm rồi sang Trung Hoa. Tại đây, vào năm 1924, họ đã được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Từ đấy, một con đường mới đầy triển vọng của cách mạng Việt Nam được hình thành, trong đó có sự đóng góp đáng kể của những người con ưu tú của quê hương như : Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Sĩ Sách, Phùng Chí Kiên... Thời kỳ các tổ chức tiền thân của Đảng ra đời, Nghệ An đã có cơ sở cách mạng rộng khắp, trở thành địa bàn hoạt động của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (Thanh niên cách mạng đồng chí Hội); Đông Dương cộng sản Đảng; Tân Việt cách mạng Đảng, Đông Dương cộng sản liên đoàn. Trong cao trào cách mạng 1930 - 1931, cùng Hà Tĩnh, Nghệ An trở thành trận địa chính trong cuộc tổng diễn tập đầu tiên của cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Tại đây đã hình thành chính quyền Xô viết đầu tiên ở Đông Nam Á. Đế quốc Pháp và phong kiến Nam triều rắp tâm "làm cỏ" Nghệ - Tĩnh, hòng nhổ hết gốc rễ cộng sản trên địa bàn này. Nhưng, chúng đã bất lực, chỉ vài năm sau, các cơ sở Đảng lại phục hồi và lớn mạnh không ngừng. Trong thời kỳ 1939 - 1945, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An đã phải đương đầu với nhiều thử thách; cùng một lúc chống ách thống trị, áp bức của thực dân phản động Pháp, phát xít Nhật và bè lũ tay sai của chúng; đồng thời, phải đối phó với âm mưu, thủ đoạn, chống phá phong trào cách mạng vô cùng thâm độc của địch. Đặc biệt là chúng sử dụng những tên phản bội đã từng giữ chức vụ cao nhất trong Đảng bộ để bắt bớ cán bộ, đảng viên phá hoại phong trào. Đến thời kỳ tiền khởi nghĩa, khi đã có tình thế cách mạng trực tiếp, mặc dù hệ thống tổ chức Đảng chưa kịp phục hồi, Việt Minh liên tỉnh Nghệ - Tĩnh (mà nòng cốt là những đảng viên cộng sản kỳ cựu vừa ra khỏi nhà tù đế quốc) đã nhạy bén chớp thời cơ lãnh đạo phong trào đấu tranh của quần chúng giành chính quyền thắng lợi.
4 - Bản sắc văn hoá và truyền thống y học: Từ thời Văn hoá Đông Sơn, thời Vua Hùng dựng nước đến nay, cư dân Nghệ An đã phát triển lên đến hàng triệu người với hàng trăm họ tộc, dân số Nghệ An có trên 3 triệu người (đứng thứ 4, sau thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Thanh Hoá và thành phố Hà Nội), bao gồm 6 dân tộc: Kinh, Thái, Mông, Khơ Mú, Ơ Đu, Thổ. Từ bao thế hệ, nguồn sống chính của phần lớn cư dân Nghệ An là trồng lúa nước. Dân miền núi khai thác rừng, dân miền biển có nghề chài lưới và làm muối. Ngoài ra, Nghệ An có nhiều vùng nghề, làng nghề truyền thống, đã nổi tiếng từ lâu đời như nghề rèn ở Nho Lâm, nghề đúc đồng Diễn Tháp, nước mắm Vạn Phần (Diễn Châu); nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa ở Quỳnh Lưu, Nam Đàn, Đô Lương, Thanh Chương; dệt thổ cẩm ở các huyện miền núi (Quỳ Châu, Tương Dương); đồ gốm (nồi đất) ở Trù ú (Đô Lương); chợ Bộng (Yên Thành); chiếu cói Yên Lưu (Hưng Hoà - Thành phố Vinh). Hiếu học là một truyền thống quí báu của nhân dân Nghệ An. Đây là vùng đất rộng, lắm núi, nhiều sông, với nhiều di tích và danh thắng... đã tác động lớn vào tư duy, tâm hồn của người dân, khơi dậy trong họ ý thức tìm tòi, học hỏi. Qua các kỳ thi hội, thi đình thời xưa, Nghệ An thường đứng hàng thứ nhất, nhì về số thí sinh đậu tiến sĩ. Nghệ An có những làng học nổi tiếng cả nước như làng Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu); làng Hoành Sơn và làng Trung Cần (Nam Đàn), từ truyền thống hiếu học đã sản sinh ra nhiều nhà khoa bảng nổi danh như: Trạng nguyên Bạch Liêu, Trạng nguyên Hồ Tông Thốc, Thám hoa Nguyễn Văn Giao, Thám hoa Phan Thúc Trực, Tiến sĩ Ngô Trí Hoà, nhà cách tân uyên bác Nguyễn Trường Tộ.v.v. Nghệ An có nhiều nhà giáo và cả một tầng lớp đông dảo trí thức đi khắp nơi trong nước để dạy học, đó là những thầy đồ Nghệ. Ngoài các thầy đồ còn có nhiều thầy thuốc, hành nghề với phương châm "Nam dược trị Nam nhân" (lấy thuốc Nam điều trị cho người Nam) và lấy y đức "trị bệnh cứu người", “Lương y phải như từ mẫu” (thầy thuốc phải như mẹ hiền) làm lẽ sống. Ngoài các kinh nghiệm đấu tranh chống ngoại xâm, đấu tranh với thiên nhiên để bảo vệ quê hương xứ sử, bảo vệ cuộc sống bình yên, nhân dân Nghệ An đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm bảo vệ sức khoẻ con người. Những kinh nghiệm dân gian phong phú cùng với những kết quả nghiên cứu của các danh y lỗi lạc đã góp phần làm cho nền y học cổ truyền nước ta phát triển. Trong hàng trăm các danh y tỉnh nhà ở các thời kỳ lịch sử có Hoàng Nguyên Cát, Hoàng Danh Sưởng đã có nhiều cống hiến xuất sắc phát triển nền y học nước nhà. Hoàng Nguyên Cát (1702 - 1779), quê quán tại làng Vạn Lộc, nay là phường Nghi Tân, Thị xã Cửa Lò. Ông sống trong một gia đình nhà nho, uyên bác. Khoa thi Quý Mão (1723) thi đậu Hiệu Sinh nhưng thấy cảnh dân tình đói khổ, sức khoẻ con người không được coi trọng, ông bỏ lên quê vợ ở làng Thượng Thọ, tổng Võ Liệt, nay là xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương để học thuốc với nhạc phụ là Chân Vạn tiên sinh. Kết hợp thực tiễn với sách vở, qua nhiều năm chữa bệnh cứu người, tích luỹ kinh nghiệm, ông biên soạn cuốn Quỳ viên gia học bao gồm lí luận cơ bản, kinh nghiệm lâm sàng và sử dụng dược vị để lưu truyền về sau. Hoàng Danh Sưởng (1759 - 1841), nguyên quán làng Thịnh Mỹ, tổng Cao Xá, nay là xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu. Thi đậu Hiệu Sinh, nhưng ông không chịu ra làm quan mà chỉ ham thú điền viên và quyết tâm nghiên cứu y học với hoài bão chữa bệnh cứu đời. Trên 30 năm vừa học vừa làm, vừa tham khảo kinh điển vừa thu thập kinh nghiệm dân gian với trí sáng tạo của bản thân, ông tập hợp những hiểu biết của mình soạn bộ sách Lạc sinh tâm đắc gồm 4 quyển, bao gồm các bài thuốc chữa các bệnh cứu người còn lưu truyền đến tận ngày nay. Từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, dân ta một cổ hai tròng, vừa chịu ách cai trị của thực dân Pháp, vừa bị triều đình phong kiến đè nén. Chính sách cai trị và bóc lột của thực dân Pháp là một chính sách độc quyền về kinh tế, chuyên chế về chính trị, nhằm biến Việt Nam thành nơi cung cấp nguyên liệu, bóc lột nhân công và tiêu thụ hàng công nghiệp của chính quốc, biến chính quyền phong kiến thành chính quyền bù nhìn và tay sai. Chính sách đó đã làm cho xã hội Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng phân hoá ngày càng sâu sắc. Nhằm phục vụ chủ yếu cho bọn quan lại, binh lính Pháp và quan lại triều đình phong kiến, từ năm 1902, thực dân Pháp cho thành lập phòng khám bệnh phát thuốc và trạm cấp cứu ở một số huyện lị trọng điểm như Phủ Diễn, Phủ Quỳ, Phủ Bọn, Phủ Tương. Các cơ sở khám bệnh và trạm cấp cứu thường chỉ có một y tá phụ trách. Ngày 18- 9- 1918, theo đề nghị của Viện Khâm sứ Trung Kỳ, toàn quyền Đông Dương mới ra quyết định tổ chức mạng lưới y tế ở Trung Kỳ với một bệnh viện Trung tâm ở Huế, 4 bệnh viện loại hai ở 4 tỉnh: Nghệ An, Đà Nẵng, Thanh Hoá, Bình Định và 8 bệnh xá ở các tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quãng Ngãi, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Kon Tum và Lâm Đồng. Bệnh viện (Nhà thương) ở Nghệ An được xây dựng tại Thị xã Vinh với quy mô 200 giường bệnh, do một Bác sĩ người Pháp làm chủ sự (giám đốc) và 2 y sĩ Đông Dương giúp việc, còn lại là y tá, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên. Bệnh viện được thành lập nhằm phục vụ cho quan chức nên việc thiết kế xây dựng, bố trí giường bệnh cũng rất khác nhau: quan chức người Pháp ở nhà lầu riêng (gọi là lầu Tây); quan lại phong kiến và quan chức người Việt ở lầu quan. Số người giàu có lâm bệnh được vào khám chữa bệnh ở phòng xây, lợp ngói, số phòng nhà tranh, vách đất giành cho người dân nghèo khổ, khi lâm bệnh được vào phòng bố thí (nhà thương chợ) nhưng không được quan tâm khám và cấp thuốc. Dân đau, dân ốm, tự dân lo lấy với những cây nhà lá vườn. Ở nhà máy, hầm mỏ công nhân ốm đau cũng phải làm việc đến lúc không còn đủ sức để đảm bảo bát cơm cho mình. Ở thành phố không có luật lệ vệ sinh nào, có chăng cũng để phạt dân lấy tiền cho ngân quỹ. Ở thôn quê cảnh phân đầy ngõ, cảnh một ao vừa ăn, rửa, tắm chung lẫn với trâu đằm là cảnh bình thường. Bởi vậy, các bệnh dịch như đậu mùa, thổ tả, sốt rét... hầu như năm nào cũng xảy ra, làm chết nhiều người, nhất là trẻ em. Không thể dựa vào công tác y tế của bọn thực dân, đế quốc, nhân dân Nghệ An với truyền thống sử dụng “thuốc nam” (dân tộc) đã tự giúp đỡ, chạy chữa cho nhau. Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các thầy thuốc Đông y ở các làng, xã thường là các cử nhân, tú tài bất hợp tác với giặc chọn nghề làm thuốc để cứu dân làm phúc. Họ không chỉ đã góp phần đáng kể vào việc bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân, mà còn là những chiến sĩ góp phần giáo dục tinh thần yêu nước trong dân chúng. Những chuyến đi “bốc thuốc” của họ từ tháng này qua tháng khác cũng là những lần đi liên lạc bắt mối tìm đồng chí kết hội yêu nước, tiêu biểu có Nguyễn Thức Tự, Đinh Nhật Thận, Lê Võ, Nguyễn Sinh Sắc.v.v... Khi cách mạng Tháng Tám năm 1945 nổ ra, nhiều chiến sĩ cách mạng, quần chúng nhân dân tham gia khởi nghĩa và lực lượng binh lính bị thương vong, lực lượng y tế của tỉnh lúc bấy giờ, dưới sự giác ngộ và tuyên truyền của Mặt trận Việt Minh đã nhiệt tình tham gia vào việc cứu chữa người bị thương. Sau khi chính quyền cách mạng được thành lập, với sự hình thành của ngành Y tế, các thầy thuốc ngày càng đông đảo phục vụ người dân lao động.
CHƯƠNG I
NGÀNH Y TẾ NGHỆ AN THỜI KỲ 1945 - 1975
I- Tổ chức và hoạt động của ngành Y tế Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (9/ 1945 - 7/1954). Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Nghệ An trong Cách mạng Tháng Tám 1945 đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của cả nước, phá tan xiềng xích nô lệ của chế độ phát xít, thực dân- phong kiến trên đất nước ta; mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc Việt Nam, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2- 9- 1945: "... Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hoà... Chính quyền nhân dân vừa thành lập được vài tuần đã phải đối phó với những tình huống vô cùng gay go, phức tạp. Cùng một lúc phải chống ba thứ giặc: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Hậu quả của nạn đói khủng khiếp năm 1945 còn rất nặng nề. Trên một nửa diện tích phải bỏ hoang và thiếu sức lao động, thiếu giống và sức kéo. Thiên tai xảy ra dồn dập, hạn hán kéo dài, ruộng đồng cạn khô, sau hạn lại lụt to bão lớn. Cái đói vẫn không tha dân nghèo. Cái đói, dịch bệnh càng hoành hành đáng sợ. Tại các xã ven biển như Diễn Kim, Diễn Vạn, Diễn Bích, Diễn Ngọc (Diễn Châu), dịch bệnh lan tràn, cướp đi nhiều mạng người. Tại Vinh, trong các nhà máy, xí nghiệp sản xuất đình trệ. Đời sống công nhân và nhân dân rất bấp bênh. Viên chức cũ không có việc làm. Ngân quỹ của tỉnh Nghệ An chỉ còn có 720.000 đồng Đông Dương do chính quyền cũ để lại. Các loại thuế mới chưa thu được trong khi các thuế cũ bị bãi bỏ. Bọn phản động tìm mọi cách nói xuyên tạc, kích động gây rối, chống phá quyết liệt. Thêm vào đó, chế độ cũ đã để lại nhiều tệ nạn, hủ tục nặng nề khác, trình độ dân trí quá thấp, đa số nhân dân mù chữ. Trước tình hình đó, chính quyền cách mạng lâm thời tỉnh cùng với Mặt trận Việt Minh đã lãnh đạo nhân dân khắc phục mọi khó khăn, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng và từng bước xây dựng Nghệ An phát triển. Ngày 24- 2- 1946, cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh khoá I được tổ chức. Ngày 23 - 3 - 1946, Hội đồng nhân dân tỉnh khoá I họp phiên thứ nhất đã bầu ra Uỷ ban hành chính tỉnh do ông Lê Viết Lượng làm Chủ tịch. Cùng với sự thành lập các ban ngành cấp tỉnh, ngành Y tế Nghệ An cũng được thành lập nhằm mục đích phục vụ chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Bác sĩ Phạm Khắc Hy, Uỷ viên Uỷ ban hành chính tỉnh phụ trách lĩnh vực y tế. Dưới sự chỉ đạo của Uỷ ban hành chính tỉnh, ngành Y tế trong buổi đầu phải vượt qua khó khăn, thiếu thốn sắp xếp lại các bệnh xá phủ, huyện, truyền bá nội quy vệ sinh trong thôn quê; mở thêm các bệnh xá phục vụ trong các đơn vị giải phóng quân; tuyên truyền và khuyến khích việc bào chế thuốc nam với việc thành lập "Hội Hồng Lam y tế". Đặc biệt, Nhà thương Vinh được củng cố và đổi tên là Nhà thương Hồ Chí Minh, vừa phục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân vừa làm nhiệm vụ phục vụ cho các chiến sĩ quân đội ở mặt trận về điều trị. Ngành Y tế đã đào tạo cấp tốc hàng ngàn vệ sinh viên với thời gian 15 ngày, hàng trăm y tá, nữ hộ sinh với thời gian 3 tháng, 6 tháng nhằm đáp ứng kịp thời cho nhu cầu xây dựng tuyến y tế cơ sở xã, vừa phục vụ tiền tuyến, vừa bổ sung vào biên chế của ngành. Trong muôn vàn khó khăn của một nước vừa thoát ra khỏi sự bóc lột đến xương, đến tuỷ, thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu thầy, thiếu thuốc. Nhưng cũng bắt đầu từ ngày ấy, công việc bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân đã trở thành nhiệm vụ của Nhà nước. Và ngay từ buổi đầu, Hồ Chủ Tịch đã khuyên lo vệ sinh phòng bệnh cho nhân dân, hướng tổ chức vào vùng thôn quê rộng lớn, về các vùng dân tộc và kết hợp Đông - Tây y để giải quyết những khó khăn, để tận dụng mọi khả năng. Đó là những hướng công tác mới, xuất phát từ quan điểm phục vụ, từ tình hình thực tế nước nhà. Phục vụ nhân dân, lấy công việc vệ sinh phòng bệnh là chính, kết hợp Đông- Tây y, những hướng ấy dần dần trở thành những nguyên tắc cơ bản của ngành Y tế Việt Nam, những phương châm hoạt động của cán bộ y tế Việt Nam. Thời gian xây dựng ngành chưa được bao lâu, thì cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, toàn ngành y tế cùng toàn dân xông pha vào cuộc kháng chiến thần thánh để bảo vệ đất nước. “Giờ cứu quốc đã đến! Ta phải hi sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước”. Lời kêu gọi lịch sử của Hồ Chủ Tịch ngày 19 - 12 - 1946 đã cho toàn ngành y tế thấy rõ nhiệm vụ thiêng liêng của mình trong giờ phút quyết định của dân tộc là đứng lên cùng toàn dân tộc để cứu nước. Và cũng từ đây phải rời thành thị về thôn quê, vừa làm nhiệm vụ chữa bệnh chăm sóc sức khoẻ nhân dân, vừa làm nhiệm vụ phục vụ tiền tuyến, chăm sóc sức khoẻ bộ đội. Trước yêu cầu và nhiệm vụ mới, ngành Y tế Nghệ An đã xác định rõ hướng đi và nhiệm vụ của ngành là phục vụ tiền tuyến, phục vụ nhân dân lao động. Năm 1960, Đại hội Đảng toàn quốc đề ra “phòng bệnh là chính, chữa bệnh là quan trọng”. Hoạt động của ngành, hướng về nông thôn, nơi sinh sống của 90 % dân số, phòng bệnh là chính, tự lực cánh sinh và dựa vào dân là chính. Tổ chức kiện toàn bộ máy của ngành, động viên các nhân viên y tế của chế độ cũ sang phục vụ nhiệm vụ cách mạng. Kiên trì đường lối y học dự phòng, thường xuyên coi trọng công tác vệ sinh phòng dịch. Nâng cao hoạt động khám chữa bệnh và cấp cứu chiến thương. Kết hợp chặt chẽ giữa Tây y và Đông y, coi trọng công tác Dược đảm bảo nhu cầu thuốc chữa bệnh. Khẩn trương đào tạo đội ngũ cán bộ y tế phục vụ nhiệm vụ bảo vệ chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Phong trào vệ sinh phòng bệnh được ngành y tế phát động thường xuyên, rộng khắp, từ những cuộc vận động ăn chín uống sôi, đến vận động làm chuồng trâu, chuồng lợn xa nhà ở, làm nhà tiêu... đều được chú ý. Chính quyền các cấp đã vận động nhân dân cải tạo nơi ăn ở, sửa sang dọn dẹp đường sá, vườn tược, khơi thông cống rãnh. Những việc làm thiết thực của ngành y tế cách mạng đã gây được lòng tin tưởng vào chế độ xã hội chủ nghĩa, một chế độ coi trọng sức khoẻ con người, tạo dựng được mối quan hệ mang tính nhân văn cao cả giữa người thầy thuốc và người bệnh, một nền y tế khác biệt hoàn toàn với nền y tế của chế độ thực dân, phong kiến. Năm 1947, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào thời kỳ quyết liệt. Để chống địch đổ bộ và đóng quân, ngày 06 - 02 - 1947, Hồ Chủ Tịch đã ra lời kêu gọi đồng bào tiêu thổ để kháng chiến. Thực hiện nhiệm vụ tiêu thổ để kháng chiến, rào làng chiến đấu, phá đường quốc lộ, đánh sập cầu cống nhằm ngăn cản bước tiến của quân địch. Các nhà máy, trường học, bệnh viện ở thị xã phải tháo dỡ dời về vùng nông thôn xa các trọng điểm đánh phá của địch, để đảm bảo an toàn trong khám chữa bệnh, đáp ứng kịp thời cấp cứu thương bệnh binh giữa các vùng. Ngày 19 - 6 - 1947, Nhà Thương Hồ Chí Minh dời chuyển lên Phuống (Thanh Giang, Thanh Chương) làm nhiệm vụ như một bệnh viện quân y, thuộc Sở Y tế Liên khu 4. Đồng chí Nguyễn Kinh Chi, Giám đốc Sở Y tế Liên khu 4 làm Giám đốc Bệnh viện. Một bộ phận từ Nhà Thương Hồ Chí Minh được tổ chức thành Bệnh viện mới, được chuyển lên vùng Bạch Ngọc (xã Lam Sơn- Đô Lương) do Bác sĩ Nguyễn Trọng Lai làm Giám đốc. Trong muôn vàn khó khăn thiếu thốn, thiếu thầy thiếu thuốc, cơ sở vật chất thì dựa vào dân, đền chùa xã Lam Sơn. Tuy vậy, tinh thần của cán bộ y tế là luôn vượt qua mọi khó khăn, thi đua làm việc hết lòng vì người bệnh, hàng ngàn lượt người được khám, hàng trăm người được cứu sống, các ổ dịch như sốt rét, đậu mùa, kiết lị được hạn chế lây lan. Bên cạnh hai bệnh viện, ngành y tế Nghệ An đã tổ chức 4 trạm cứu thương, quân dân y kết hợp, ở 4 khu vực: - Trạm Quân dân y khu A ở Hưng Nguyên. Địa bàn phục vụ là các đơn vị bộ đội và nhân dân Thị xã Vinh, Hưng Nguyên, Nam Đàn. - Trạm Quân dân y khu B ở Diễn Châu. Địa bàn phục vụ là các đơn vị bộ đội và nhân dân các huyện Yên Thành, huyện Quỳnh Lưu. - Trạm Quân dân y khu C ở Nghĩa Đàn. Địa bàn phục vụ là các đơn vị bộ đội và đồng bào các dân tộc khu vực đường 48. - Trạm Quân dân y khu D ở Cửa Rào (Tương Dương). Địa bàn phục vụ là các đơn vị bộ đội và đồng bào các dân tộc khu vực đường 7 từ Con Cuông trở lên Mường Xén. Ngoài ra còn có 3 trạm xá ở Nam Đàn, Quỳnh Lưu, Diễn Châu và 9 trạm hộ sinh tại Đô Lương, Thanh Chương, Nam Đàn, Bạch Ngọc (Đô Lương), Hưng Long (Hưng Nguyên), Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành và Công xưởng KT1. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An và Hà Tĩnh không có sự chiếm đóng của quân địch nên được gọi là vùng tự do. Tuy vậy, nhiệm vụ của các địa phương cũng rất nặng nề, vừa sản xuất phát triển kinh tế, vừa chi viện sức người tham gia chiến đấu ở các chiến trường. Hưởng ứng phong trào thi đua yêu nước nhằm động viên toàn quân, toàn dân ra sức thi đua kháng chiến và kiến quốc. Cán bộ và nhân viên y tế Nghệ An đã thực hiện thi đua sôi nổi, làm tốt công tác chăm sóc phục vụ sức khoẻ nhân dân, từng bước củng cố cơ sở y tế tuyến huyện đến xã; phục vụ tốt cho lực lượng dân công hoả tuyến, thanh niên xung phong, tham gia các chiến dịch như Bình - Trị - Thiên; Trung - Thượng Lào và chién trường Bắc Bộ, cán bộ và nhân viên y tế Nghệ An luôn được điều động theo các đơn vị quân đội- làm nhiệm vụ cứu thương, chăm sóc sức khoẻ thương binh và khi cần vẫn cầm súng chiến đấu kiên cường, không ngại hi sinh gian khổ. Ngày 05 - 10 - 1949, thực dân Pháp cho quân lính có máy bay, tàu chiến yểm trợ đổ bộ vào Lạch Cờn, Lạch Thơi, Lạch Quèn thuộc huyện Quỳnh Lưu. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt. Nhiều cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hi sinh. Dân quân các xã đã kiên cường bám trụ địa bàn đánh địch. Nhờ hiệp đồng và phục vụ chiến đấu chặt chẽ, quân dân Nghệ An đã làm tốt công tác cứu chữa thương binh và nhân dân bị thương kịp thời. Cũng trong năm 1949, Bệnh viện Bạch Ngọc được dời về Tăng Thành, huyện Yên Thành để thuận tiện, rút ngắn khoảng cách đi lại của người bệnh các huyện phía Bắc, đáp ứng yêu cầu phục vụ kháng chiến. Một trong những mục tiêu lớn nhất của ngành y tế nước nhà nói chung và của Nghệ An nói riêng là bảo vệ và tăng cường sức dân, đó là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp thiết. Ngành Y tế đã chủ động, kiên trì và liên tục phát động các phong trào phòng bệnh hơn chữa bệnh, ăn chín uống sôi; đào giếng nước, xây dựng "hố xí 2 ngăn ủ phân tại chỗ" hợp vệ sinh để "sạch làng tốt ruộng" làm sạch môi trường. Ở miền núi thì vận động nhân dân ngủ mắc màn, dời chuồng nuôi gia súc ra xa nhà ở, phát quang bụi rậm... Vận động toàn dân xây dựng nếp sống văn minh, gia đình gương mẫu, tham gia phong trào thể dục thể thao rèn luyện thân thể, chống tệ nạn mê tín, đồng bóng trong chữa bệnh, bốc thuốc. Năm 1957, Ngành Y tế đã thành lập ba đội lưu động phòng chống các bệnh xã hội (phòng chống sốt rét, phòng chống mắt hột, phòng bệnh lưu động) để kịp thời phát hiện, xử lí, hạn chế và dập tắt các ổ dịch như sốt rét, lao, mắt hột, da liễu, phong hủi, hạn chế lây lan và hạn chế tử vong. Trong điều kiện khó khăn của cuộc kháng chiến, nguồn thuốc của các cơ sở y tế trong tỉnh không có nhiều, không đủ cung cấp cho các bệnh viện, trạm xá. Nguồn thuốc chủ yếu phụ thuộc vào sự điều phối của Trung ương, khuyến khích trong mỗi gia đình người dân, trong các trạm xá, bệnh viện trồng cây dược liệu. Cán bộ dược tá, dược sĩ cũng thiếu, ở bệnh viện các y tá kiêm pha chế thuốc. Để khắc phục tình trạng thiêu thuốc chữa bệnh, ngành Y tế Nghệ An đã thành lập phòng quản lý dược và từng bước thành lập công ty dược phẩm chuyên về kinh doanh phân phối thuốc, mở các cửa hàng dược ở các huyện đảm bảo đưa thuốc về tận các xã. Với khẩu hiệu "quân sự trên hết, tiền tuyến trên hết", cán bộ và nhân viên Y tế Nghệ An cũng như cán bộ nhân viên các ngành khác vừa thoát li ra từ chế độ thực dân, phong kiến, vừa từ người dân lam lũ ở thôn quê ra, cán bộ chuyên môn được đào tạo chưa nhiều. Cán bộ quản lí ở Ty (Sở) cũng rất hạn chế. Lãnh đạo Sở thường kiêm luôn giám đốc các bệnh viện, trạm xá. Công tác đào tạo, huấn luyện chuyên môn nghiệp vụ cũng do các bác sĩ, y sĩ nhiều kinh nghiệm ở các bệnh viện làm giáo viên. Bệnh viện là nơi điều trị bệnh nhân đồng thời là trường học cho các học viên. Cán bộ lãnh đạo của Ty thời kỳ này có, bác sĩ Lê Khánh Đồng, Trưởng Ty, kiêm Giám đốc Bệnh viện Tỉnh; ông Võ Công Lạng, Phó Trưởng Ty và bộ phận văn phòng có 5 - 6 cán bộ. Tổ chức bộ máy ở huyện, có phòng y tế với 3 cán bộ theo dõi tình hình sức khoẻ nhân dân, phát hiện các ổ dịch, phối hợp với các cấp tuyên truyền trong nhân dân về vệ sinh phòng bệnh, vận động nhân dân trồng cây dược liệu. Tổ chức hoạt động y tế ở các xã đồng bằng, có một nữ y tá và một nữ hộ sinh, hoạt động chủ yếu là tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh, vận động nhân dân ăn chín, uống sôi, thăm thai đỡ đẻ, phục vụ dân công hoả tuyến. Trong quá trình kháng chiến chống thực dân Pháp, cán bộ và nhân dân ngành Y tế cả nước nói chung, Y tế Nghệ An nói riêng được Đảng, Chính phủ và Bác Hồ luôn luôn theo dõi giúp đỡ, luôn có thư thăm hỏi và chỉ cho phương hướng hoạt động. Cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp của nhân dân ta với biết bao gian khổ, hi sinh nhưng đã kết thúc vẻ vang bằng chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Cùng với nhân dân trong tỉnh, ngành Y tế Nghệ An đã góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi và tin tưởng, vững bước vào giai đoạn mới, giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành là phục vụ chiến đấu và chăm sóc sức khoẻ nhân dân. II- Tổ chức và hoạt động của ngành Y tế Nghệ An thời kỳ chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975) 1- Ngành Y tế Nghệ An trong 10 năm hoà bình xây dựng (1954 - 1964) Ngày 7 - 5 - 1954, quân và dân ta đã chiến thắng ở Điển Biên Phủ, chấm dứt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đầy gian khổ, ác liệt và vô cùng anh dũng của dân tộc ta. Ngày 20 - 7 - 1954, nước Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ, công nhận độc lập, chủ quyền của nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Hoà bình được lập lại trên toàn cõi Đông Dương. Vĩ tuyến 17 trở thành giới tuyến quân sự tạm thời chia cắt nước ta làm 2 miền. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Miền Nam, một nửa Tổ quốc thân yêu, từ xã hội thuộc địa kiểu cũ của thực dân Pháp trở thành thuộc địa kiểu mới của đế quốc Mỹ. Nghệ An vốn là vùng tự do suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp nên việc xây dựng kinh tế, văn hoá - xã hội đã đạt được những thành tựu đáng kể, tạo tiền đề quan trọng cho bước đi tới. Được sống trong hoà bình, độc lập, tự do, nhân dân Nghệ An phấn khởi tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, hăng hái thi đua phấn đấu xây dựng quê hương và đấu tranh thống nhất nước nhà. Đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp, các ngành được rèn luyện, thử thách và trưởng thành trong kháng chiến, luôn giữ vai trò tiên phong, gương mẫu trong các phong trào thi đua yêu nước. Tuy nhiên, Nghệ An dù không phải là chiến trường trực tiếp, nhưng cũng thường bị đánh phá bởi các cuộc tập kích, đổ bộ và oanh tạc bằng máy bay. Để phục vụ cuộc kháng chiến và sự quyết tâm “dốc sức, dốc lòng”, “tất cả cho tiền tuyến”, nên sức người sức của đã huy động triệt để. Ngay từ những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Nghệ An đã thực hiện chủ trương “phá hoại để kháng chiến nên nhiều cơ sở kinh tế, văn hoá- xã hội đều bị phá hoại. Do đó, tuy là vùng tự do nhưng Nghệ An vẫn là một trong những tỉnh nghèo và khó khăn của miền Bắc. Bên cạnh đó, thiên tai lại gây cho Nghệ An những thiệt hại nặng nề. Hạn hán kéo dài, rồi lụt to, bão lớn tàn phá mùa màng, cuốn trôi nhà cửa, trường học, bệnh viện, phá hoại các công trình giao thông, thuỷ lợi, sản xuất đình trệ, mùa màng thất bát, nạn đói, dịch bệnh xảy ra nghiêm trọng, kéo dài ở nhiều nơi trong tỉnh. Những điều kiện khó khăn về kinh tế- xã hội đã có ảnh hưởng trực tiếp tới nhiệm vụ của ngành y tế Nghệ An.
Hội nghị cán bộ y tế ngày 27- 2 - 1955 tổ chức tại Hà Nội đã khẳng định những công việc nặng nề, to lớn đã làm được về các mặt phòng bệnh, chữa bệnh, cung ứng thuốc và dụng cụ y tế, đào tạo cán bộ, đồng thời nhấn mạnh những thiếu sót trong phòng bệnh và quản lý, chỉ đạo nâng cao chất lượng chuyên môn. Hội nghị có vinh dự được nhận thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cho đến nay, nội dung thư vẫn được coi là một chỉ thị về đường lối phục vụ và xây dựng ngành y tế, đó là: - Phải thật thà đoàn kết. - Thương yêu người bệnh, thực hiện “Lượng y phải như từ mẫu”. - Xây dựng một nền y học của ta dựa trên nguyên tắc khoa học, dân tộc, đại chúng, chú trọng nghiên cứu và phối hợp Đông và Tây y. Ngày 27 - 2 - 1955, ngày Bác Hồ gửi thư cho ngành y tế đã trở thành ngày truyền thống của ngành Y tế “Ngày thầy thuốc Việt Nam”. Đầu năm 1958, tại Hội nghị tổng kết công tác của ngành Y tế, Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch đã trình bày 5 phương châm, nguyên tắc chỉ đạo của ngành Y tế Việt Nam là: 1. Công tác y tế phục vụ sản xuất, quốc phòng, các dân tộc ít người, phụ nữ và trẻ em là bảo vệ những đối tượng quan trọng trong lao động sản xuất, gia đình, những đối tượng tương lai của đất nước. 2. Với chủ trương Phòng bệnh là chính, Ngành đã động viên sự tham gia của mọi người trong việc chăm lo việc ăn, ở, nghỉ ngơi, hướng dẫn phòng bệnh trong lao động nghề nghiệp, đẩy mạnh phong trào thể dục, thể thao, rèn luyện nâng cao sức khoẻ cho mọi người, tiêm chủng phòng dịch cho trẻ em đề phòng các bệnh nhiễm khuẩn, các bệnh phát sinh theo mùa, theo thời tiết, theo lứa tuổi. 3. Thống nhất chữa bệnh với phòng bệnh, chữa bệnh toàn diện. Phát hiện sớm, điều trị tích cực bằng thuốc và chăm lo chế độ ăn uống theo bệnh lý, luyện tập, tạo môi trường thuận lợi vè tình cảm và tâm lý góp phàn chữa bệnh đạt kết quả tốt. Trong chữa bệnh, cần theo dõi sức khoẻ và quản lý bệnh tật của các đồi tượng một cách thường xuyên để hạn chế lây lan. 4. Kết hợp đông tây y. Kết hợp đông tây y để tăng thêm khả năng phòng bệnh, chữa bệnh và bảo đảm đủ thuốc cho nhân dân, cần thừa kế, phát huy vốn có của y học dân tộc, những bài thuốc hay của y học dân gian. Dùng y học hiện đại để xác minh, chỉnh lý và nâng cao vốn quý, những bài thuốc hay của y học dân tộc. 5. Tuyên truyền giáo dục quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng. Bảo vệ sức khoẻ là sự nghiệp của quần chúng, thực hiện vệ sinh, thay đổi tập quán để phòng bệnh là một cuộc cách mạng văn hoá tư tưởng lâu dài, gian khổ, cần tuyên truyền giáo dục quần chúng để nâng cao nhận thức, t |















